KHO BÁU CỦA VỊ VUA YÊU NƯỚC
Hai cuốn sách Đại nam thực lục và Quốc triều chánh biên toát yếu có nội dung từ việc vua Tự Đức cho xây các sơn phòng (một loại thành lũy có quân lính đóng) tại Quảng Trị, Quảng Bình và Hà Tĩnh để ngăn chặn, truy quét phiến loạn chống lại triều đình đồng thời đề phòng nếu xảy ra chiến tranh với Pháp. Tháng 8-1883, Pháp tiến quân, chiếm được cửa biển Thuận An (huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế ngày nay) rồi về kinh đô, đóng quân ven sông Hương, đối diện kinh thành Huế. Ngoài ra, Pháp ra sức cướp bóc, thu vàng bạc châu báu. Trước tình thế này, nhà Nguyễn bí mật đưa nhiều vàng bạc, khí giới ra các sơn phòng.
Năm 1884, vua Hàm Nghi lên ngôi. Đêm 22 rạng sáng 23-5 năm Ất Dậu (tức ngày 4 và 5-7-1885), phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cho quân nhà Nguyễn tấn công Pháp tại tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá nhưng thất bại, phải phò vua rút chạy. Quốc triều chánh biên toát yếu viết: “Tháng 5, ngày 23 là ngày Ất Mão, kinh thành hữu sự. Tôn Thất Thuyết đem Ngài (vua Hàm Nghi) và Tam cung ra Bắc. Ngày 24, Ngài và Tam cung ra tới Quảng Trị đóng tại Hành cung. Ngày 27, Ngài ngự tới Sơn phòng Quảng Trị”.
Đó là thành Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị). Tại đây, vào ngày 3-6 âm lịch (13-7-1885) vua Hàm Nghi (mới 13 tuổi) ban chiếu Cần Vương kêu gọi chống giặc, được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Bị giặc truy đuổi, vua tôi chạy lên Đắkrông và Hướng Hóa (Quảng Trị) rồi sang Lào. Sau đó, vua về Hà Tĩnh đóng tại Hương Khê trong lúc phong trào Cần Vương phát triển mạnh. Pháp đuổi đánh, vua chạy vào Tuyên Hóa và Minh Hóa (Quảng Bình). Tháng 10-1888, kẻ làm phản Trương Quang Ngọc giết các cận vệ của vua, bắt vua dâng cho Pháp. Sau đó, vua bị đày sang An-giê-ri và mất năm 1913.
Thời vua Tự Đức, khi cho xây dựng các sơn phòng thì dự định sẽ chuyển từ kinh thành Huế đến thành Tân Sở hơn 30 tấn vàng, bạc. Nhưng mới chuyển được hơn tấn thì phải tạm ngừng vì Pháp xâm lược. Trong hành trình bôn tẩu của vua Hàm Nghi, có một lượng châu báu, tài sản lớn và kim ấn “Ngự tiền chi bảo” (bảo vật truyền ngôi của nhà Nguyễn) được mang theo. Do liên tục bị giặc truy đuổi nên đoàn quân của vua phải chia nhỏ, chôn cất ở nhiều nơi trên đường đi. Cuối năm 1888, vua bị bắt và giặc Pháp không tìm thấy vàng bạc, châu báu trong đoàn quân của vua.
Bà Đinh Thị Bình (78 tuổi, trú thôn Đặng Hóa), người nhặt được ba chữ bằng vàng ở vực Trẩy
Nhiều cuộc khai quật và cả sự tình cờ, nhiều người tìm được vàng bạc, vật dụng tại những nơi đoàn của vua Hàm Nghi lưu lại. Đầu năm 1980, người dân xã Đắkrông (huyện Đắkrông, Quảng Trị) phát hiện trong một hốc cây lớn chìm dưới khe suối nhiều tiền bằng kim loại cổ. Cùng thời gian, đoàn khảo sát của Bảo tàng Trung ương tìm thấy một chiếc áo dài màu đen, lót lụa đỏ, thêu kim tuyến, hình rồng năm móng được cho là áo bào của vua tại bản Sê Bu (xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa). Rồi một gia đình người Bru - Vân Kiều có chiếc mâm đồng cổ rất lớn chạm hai con rồng năm móng và năm chữ Hán: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.
Giữa tháng 4-2003, tại hang Lèn (xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa), người dân phát hiện một chiếc tráp gỗ khắc chữ Hán, hoa văn nhũ vàng được cho là đồ dùng của vua. Tháng 11-2008, bà Nguyễn Thị Liên (ngụ thôn Tân Sơn, xã Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa) tìm thấy ba đồng tiền vàng, bề mặt có in bốn chữ Hán “Hàm Nghi thông bảo”.
Thời gian trước, rất nhiều đoàn trong và ngoài nước đến động Phong Nha (huyện Bố Trạch) để tìm kho báu được cho là của vua Hàm Nghi...
CÂU CHUYỆN HỐT VÀNG Ở HÓA SƠN
Một trong những địa phương đậm dấu ấn đoàn quân của vua Hàm Nghi là xã Hóa Sơn (huyện Minh Hóa, Quảng Bình). Các ông Bàn Văn Sơn, Đinh Xuân Đại và Đinh Thanh Tiến (lần lượt là Bí thư, Chủ tịch UBND và Trưởng công an xã Hóa Sơn) cùng xác nhận sự việc và nhiều nhân chứng cũng kể lại chuyện người dân nhặt được vàng, châu báu của vua. Theo ông Sơn, khi đoàn của vua vào Hóa Sơn, có hàng chục người dân theo khiêng vác rương, hòm đựng châu báu, đồ dùng của vua. Căn cứ địa kháng Pháp được xây dựng, nhân dân ra sức hưởng ứng, đẩy mạnh phong trào Cần Vương. Pháp đóng đồn trú tại Quy Đạt và nhiều lần đưa quân đi bắt vua nhưng bất thành trước sự chống trả quyết liệt của quân dân Hóa Sơn. Hàng trăm người với cung tên phục kích hai bên đèo Lập Cập (nơi có đường độc đạo vào Hóa Sơn) để ngăn chặn giặc. Sau này, cuối năm 1888 Pháp sử dụng Việt gian dùng quỷ kế mới vào được Hóa Sơn bắt vua Hàm Nghi.
Vị trí gia đình ông Sơn đang ở là nơi vua Hàm Nghi và đoàn hộ giá từng ở, vốn là nhà của ông thu chỉ (tương đương với trưởng thôn hiện nay). Khoảng tháng 8-1947, sau một trận mưa lũ, tại vực Trẩy, khe Dương Cau (hiện cách trụ sở UBND xã Hóa Sơn khoảng 500m) làm ngã một cây khổng lồ. Từ trong ruột cây rất nhiều vàng đổ tràn ra. Bà Đinh Thị Quý (SN 1944, trú xóm Rồng, thôn Đằng Hóa) đi xúc cá phát hiện các vật bằng kim loại, lấy một ít mang về. Ông Đinh Phát - bố bà Quý - biết là vàng liền huy động người nhà đi lấy.
Hàng chục người dân khác cũng lấy được khoảng 400 - 500kg. Vài năm sau, Công an huyện Minh Hóa thực hiện lệnh truy quét nạn buôn bán vàng tình cờ phát hiện việc trên nên tiến hành thu gom. Khi biết tin công an về tịch thu vàng cho Nhà nước, ông Phát vừa sợ tội vừa để che giấu nơi chôn vàng đã tự vẫn. Anh chị em bà Quý cùng mẹ âm thầm đào vàng lên đưa ra khỏi xã, đem đi bán rồi cả nhà đến sinh sống tại xã Hóa Hợp, huyện Tuyên Hóa. Vài năm sau, cả nhà vào Tây nguyên định cư và không rõ tung tích cho đến nay. Em trai ông Phát là Đinh Ngữ cũng nhặt được nhiều vàng và đem đi đổi lấy của cải, có khi đổi mỗi thỏi vàng để lấy bó chè xanh, miếng thịt, mảnh vải...
Ông Sơn kể lại chuyện lúc 11 tuổi, ông đi câu cá cùng với người bạn tên Đinh Dư (SN 1965) thì thấy ông Đinh Tương Lai (bố ông Dư, nay đã mất) đào một cái hố, bỏ đồ vật gì xuống. Lát sau thì lực lượng công an dẫn ông Lai đến và lấy được rất nhiều vàng dưới hố. Trong số những người nhặt được vàng có mẹ ông Sơn là bà Đinh Thị Bình (78 tuổi). Bà Bình kể: “Lúc đó tui xúc tép ở gần đó, thấy nhiều người lấy được vàng ở vực Trẩy nên tôi đến xem, lấy được ba chữ “Đại” bằng vàng đem về. Rồi Nhà nước thu gom, tui nghĩ “của vua thì đi theo vua” nên đem nộp, được thưởng 2m vải đen và một ít gạo, thức ăn”.
Ngoài ra, ông Nguyễn Xuân Tứu (mất năm 2011) là bố vợ ông Sơn còn nhặt được thanh kiếm chạm vàng được xem là của vua. Ông Tứu vẫn dùng thanh kiếm đó trong sinh hoạt hàng ngày và thời chống Mỹ thì kiếm bị thất lạc...
Điều đó chứng tỏ kho báu vua Hàm Nghi tại xã Hóa Sơn là có thực. Và nhiều cuộc tìm kiếm náo nhiệt đã diễn ra. Tuy nhiên, nó được chôn giấu ở đâu, như thế nào là một bí ẩn. Về ngọn núi Mã Cú (nơi ông Nguyễn Hồng Công 31 năm đào vàng và vừa qua đời) được đồn đại là có kho báu của vua, theo ông Sơn có thể trước đây người dân nhặt được vàng, sợ tịch thu, bị tội và không muốn giao nộp nên đã đem lên đây cất giấu.
NIỀM TIN ĐÁNG SỢ
Những năm qua, có nhiều cuộc tìm kiếm kho báu của vua Hàm Nghi ở các vùng núi miền tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh. Trong đó, xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, Quảng Bình được chú ý nhiều bởi là nơi vua lưu trú lâu dài và sau này nhiều người dân nhặt được nhiều vàng. Trong đó, ông Nguyễn Hồng Công (SN 1952, quê Thanh Hóa; ngụ quận 4, TPHCM) tìm kho báu hơn ba thập kỷ.
Ông Công từng là sĩ quan biên phòng ở Long An rồi xuất ngũ với hàm thượng úy. Năm 1982, ông đóng vai phu trầm đến Hóa Sơn, lên núi Mã Cú tìm vàng. Để tránh bị phát hiện, ông tự làm một mình. Năm năm sau, ông bị chính quyền ngăn chặn. Sau đó, ông công bố là xác định được vị trí và tìm ra quy luật xây dựng kho báu. Ông nói mình có một tấm bản đồ về kho báu và cuốn gia phả về nơi chôn kho báu của vua. Trong gia phả có viết: “Cát Đặng khe Mã Cú” (ông hiểu là: vàng được chôn ở khe Mã Cú). Qua những lần đào bới, tình cờ ông tìm được những dấu vết, cách sắp xếp của cây cối, đất đá, khe nước... “giống hệt trong bản đồ”.
Rồi ông làm tờ trình gửi lên Bộ Văn hóa - Thông tin xin cấp phép tìm kho báu và được đồng ý. Trong các tờ trình gửi vào các ngày 16-6-1997 và 16-6-2011, ông Công đề nghị xin nhận 10 - 20% giá trị của kho báu. Lấy tiền tích cóp được, vận động người thân, bạn bè và một số người “hùn vốn”, ông Công dốc sức vào cuộc tìm kiếm. Ban đầu ông thuê người, máy móc đào bới. Hết năm này qua năm khác, kho báu vẫn biệt tăm, vốn liếng cạn kiệt, mọi người lặng lẽ rời Mã Cú, chỉ còn mình ông. Bán nhà, vay tiền rồi ông thuê vài người dân địa phương cùng mình đào hang, vị trí ông cho là cửa vào nơi cất kho báu. Càng đào sâu, càng không thấy gì ngoài đất đá, nước. Hết tiền thuê người, ông tự đào một mình, nắng cũng như mưa, suốt ngày hì hục trong hang đào bới thủ công, đêm nghỉ trong túp lều trên núi.
Tháng 6-2011, nhờ sự giúp đỡ của bộ đội biên phòng đóng quân tại xã Hóa Sơn, chúng tôi mới tiếp cận được ông Công và được ông cho vào hang xem “đường đến kho báu”. Đó là nơi tăm tối, ngột ngạt, chật chội. Ông nối nguồn điện vào hút nước ra ngoài để “khi cạn nước sẽ lộ ra kho báu. Đây là một cách chôn giấu dựa vào tự nhiên rất tài tình của người xưa”. Nhưng nước không cạn, cứ trào lên, lấp vào lượng nước đã được hút đi. Và kho báu vẫn là bí ẩn.
Ông Công đã sống trong túp lều trên núi Mã Cú này để đào vàng
Ông nói rằng nhiều lần tưởng như bỏ mạng vì bị ngạt thở, ngất xỉu, đổ máu, thương tích. Nhưng ông bất chấp tất cả, mong tìm được kho báu “lấy một phần trả nợ, xây chùa hoặc am thờ để tri ân những nghĩa sĩ hết lòng phò vua đánh giặc, những người từng vì chôn kho báu mà chết. Bởi vậy tôi luôn thắp hương, cầu khấn cho các vong linh và hình như tôi được phù hộ”.
Thấy chúng tôi ái ngại trước những khó khăn, hiểm nguy mà ông gặp phải và nghi ngờ về tính xác thực của kho báu, ông Công khẳng định: “Chỉ cần phá lớp đá sau hang này là thấy cửa mở vào kho báu. Tôi có bản đồ, đã tính toán kỹ, có niềm tin tâm linh và không hề hoang tưởng”. Ông đã thuyết phục được chính quyền, cơ quan chức năng bằng lý lẽ đó và họ đã đồng ý để ông tìm kho báu. Qua tiếp xúc, chúng tôi thấy ông hiểu biết rộng, không có biểu hiện tâm thần. Người dân Hóa Sơn cũng khẳng định như thế.
Chúng tôi chia tay ông Công mà trong lòng không khỏi lo lắng về việc ông đang làm là quá sức và không có gì chắc chắn. Bẵng đi một thời gian, ngày 7-10-2013, tôi nhận được tin ông Công đã tử vong. Hung tin này không làm nhiều người bất ngờ bởi đã chứng kiến và cảnh báo những hiểm nguy, khó khăn mà ông gặp phải.
RA ĐI KHI MỘNG CHƯA THÀNH
Lần trở lại Hóa Sơn này, tôi cứ vương vấn hình ảnh ông Công với nụ cười bí hiểm, nay đã tắt vĩnh viễn. Ông Bàn Văn Sơn, Bí thư Đảng ủy xã Hóa Sơn cho biết: “Sau cơn bão số 10 và nhiều ngày không thấy ông Công xuống núi mua hương hoa cúng bái như mọi lần, đoán có điều gì không ổn nên cử anh Đinh Xuân Hậu (công an viên) và anh Phan Thanh Chiến (cán bộ dân số) của xã tìm hiểu. Sáng 7-10, hai người đến nơi thì thấy cửa lều đóng, có mùi hôi thối nồng nặc. Không lâu sau, chính quyền, công an, bộ đội biên phòng đến phá cửa vào trong và thấy cảnh tượng kinh hoàng: thi thể ông Công quấn lấy tấm mùng nằm dưới đất bên cạnh chiếc giường, đang trong thời kỳ phân hủy. Qua khám nghiệm tử thi được biết, ông Công đã chết cách đó khoảng bảy ngày, chết vì kiệt sức, bệnh tật...”.
Vì không liên lạc được với gia đình nên chính quyền cùng người dân tổ chức mai táng cho người xấu số. Mọi công việc khâm liệm, lễ được tiến hành trên núi. Quan tài, các đồ lễ cho đám tang được mua từ huyện đem vào. Hơn 20 thanh niên khỏe mạnh khiêng quan tài, luồn rừng, đi qua những bậc đá cheo leo, vất vả lắm mới đến nghĩa trang. Khoảng 18 giờ khi trời vừa tối, an táng ông Công tại nghĩa địa Đồng Hóa xong thì trời đổ mưa lớn. Hai ngày sau, người em trai tên Nhân và người con trai tìm đến làm các thủ tục cần thiết. Họ rất biết ơn cán bộ và nhân dân địa phương đã lo chu tất cho ông Công.
Ông Công cùng tác giả trước cửa hang mà ông cho rằng bên trong có kho báu
Theo người dân địa phương, ông Công là người hiền lành, không làm hại, xích mích với ai. Ông được bà con thương yêu, cưu mang, chia sẻ cái ăn, áo mặc và khuyên ông từ bỏ việc tìm kho báu, trở về nhà. Ông chỉ cười bí ẩn rồi tiếp tục đào bới. Khoảng nửa tháng trước lúc chết, ông Công có xuống núi xin một loại thuốc về trị bệnh và vay tiền mua hoa quả, vàng mã, hương lên cúng bái. Người dân lại khuyên ông về quê, ông nói: “Giờ tôi còn nhà đâu nữa mà về, về thì làm khổ đến vợ con. Tôi sống ở Hóa Sơn và xin được chết ở Hóa Sơn”.
Anh Đinh Minh Lực (45 tuổi, trú thôn Đặng Hóa) là một trong những người được ông Công thuê đào vàng, nhớ lại: “Ông Công tính toán rất kỹ, rất cẩn thận, chỉ những người nào tin tưởng ông ấy mới thuê đào bới. Tôi được ông thuê làm gần hai năm, mỗi ngày ông trả 25.000 đồng tiền công. Ngày đó tất cả công việc đào vàng đều làm thủ công, vất vả và nhiều nguy hiểm. Tôi và những người dân cũng rất sợ nhưng vì miếng cơm manh áo nên làm thôi. Sau này ông Công hết vốn làm một mình”.
Anh Lực cho biết thêm, ông Công từng nói rằng kho báu khoảng 4,2 tấn vàng và nếu lấy được thì chỉ lấy một ít rồi chia hết cho bà con Hóa Sơn vì đã cưu mang, giúp ông. Vì chuyện đó mà gia đình ông ly tan, tán gia bại sản. Người vợ vì vay tiền hàng tỷ đồng để ông làm chi phí đào vàng, không trả được phải đi tù. Hai đứa con nhiều lần dọa từ mặt cha nếu ông không từ bỏ công việc tìm vàng. Và thương cha, hàng tháng họ dành tiền để gửi ra Hóa Sơn nuôi ông tiếp tục thực hiện giấc mơ tìm được kho báu.
Cái chết thương tâm của ông Công là hậu quả của những ngày sống khổ sở, cô độc trên núi trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, thiếu thốn. Có người bảo, có lẽ đó cũng là cách giải thoát khỏi bế tắc, cho cuộc đời đầy éo le, đau khổ của người đàn ông xấu số, chết ở nơi đất khách quê người.





